Page 334 - Miền Nam giữ vững thành đồng - Tập 2
P. 334

học và trung học được thiết lập, thu hút hàng chục vạn
           thanh niên. Trường sẵn có thì ta cải tạo và tiếp tục. Ta xây
           dựng thêm nhiều trường mới. Mặt trận duy trì trường tư,
           lãnh đạo trường tư theo đường lối mới. Có thể nói rằng
           không có xã giải phóng, thôn giải phóng nào mà không có
           trường học. Ở vùng giải phóng lưu vực sông Cửu Long,
           tỷ lệ trẻ em đến tuổi cấp sách đến trường cách mạng, có
           khi đạt đến 70 phần trăm, trong lúc đó thì tỷ lệ cao nhất ở
           vùng Mỹ - Diệm thống trị cũng chỉ đạt đến 65 phần 100
           mà thôi; phần lớn các em ở nông thôn đi học cấp tiểu học
           của Mỹ - Diệm thì chỉ học có 2 giờ một ngày; còn trường
           giải phóng thì dạy nhiều giờ hơn. Vùng giải phóng miền
           tây Nam Bộ, trong năm 1962 có 1.117 trường tiểu học
           và trung học, gần 20 vạn học sinh. Riêng Cà Mau đã có
           543 trường từ mẫu giáo đến lớp 4 phổ thông, với 1.000
           giáo viên, 30.400 học sinh. Vùng này có nhiều đồng bào
           thuộc dân tộc Khơme và Hoa, nên cũng có mấy trường
           dạy tiếng Khơme và tiếng Trung Hoa. Vùng giải phóng
           tỉnh Bình Thuận có 17 trường phổ thông và 2 trường cho
           đồng bào dân tộc miền núi. Vùng giải phóng tỉnh Công
           Tum và tỉnh Đắk Lắk có đến 7 trường dân tộc, 39 lớp
           bình dân ở 39 buôn. Tỉnh Phú Yên có 120 lớp tiểu học
           gồm 3.000 học sinh. Đó là những con số của 1962, sang
           năm 1963 thì các vùng giải phóng toàn miền Nam đã
           có một triệu học sinh cấp I và cấp II trong hệ thống nhà




           334             MIỀN NAM GIỮ VỮNG THÀNH ĐỒNG (TẬP II)
   329   330   331   332   333   334   335   336   337   338   339