Page 359 - Miền Nam giữ vững thành đồng - Tập 2
P. 359
tấu, mà ở vùng đó xóm làng bị kiềm kẹp ngặt nghèo; cho
nên lắm lúc, lắm nơi phải đợi mưa to, gió lớn, có sấm sét
mới chặt được phảng, rèn được mã tấu để bọn ác ôn chỉ
điểm trong làng không nghe tiếng búa.
Có nơi khác như ở Bến Tre phải dùng mưu chước,
nhiều khi rất bạo dạn, như đẽo “súng bập dừa” bôi nghệ,
bôi nhọ nồi, nhọ chảo, đêm đến hàng trăm người rầm rập
vác “súng” bao vây đồn bốt, buộc chúng đầu hàng. Ta
lấy được súng thật, rồi đi bao vây đồn bốt khác. Cứ như
thế, “súng mẹ đẻ súng con, súng con đẻ súng cháu”, mưu
trí và dũng khí, tay không lấy súng địch, điều ấy những
người đã kháng chiến 9 năm dĩ nhiên không thiếu. Các
chiến sĩ giỏi mã tấu, giỏi võ, gan dạ, phục kích khéo, bám
sát địch, đánh rất gần, chém địch và giật cả liên thanh, đó
là chuyện thường xẩy ra. Cụ già, phụ nữ, cả trẻ em, mỗi
người, mỗi giới đều có cách riêng của mình để lấy súng
địch. Phong trào lấy súng một thời rất sôi nổi ở Nam Bộ,
Tây Nguyên, và nhanh chóng lan rộng thành phong trào
quần chúng.
Những vũ khí lúc đầu này không phải chỉ có mã tấu,
giáo mác và súng lấy của địch, mà còn nhiều loại khác
nữa. Súng “ngựa trời” xuất hiện từ 1960; địa lôi gang,
chông bàn, chông cắm ngày càng phổ biến. Với những vũ
khí cực kỳ thô sơ đó, cũng bắt được địch, lấy được súng,
LƯỢC SỬ ĐỒNG BÀO MIỀN NAM
ĐẤU TRANH CHỐNG MỸ VÀ TAY SAI 359

