Page 327 - Miền Nam giữ vững thành đồng - Tập 4
P. 327
cao độ, kế thừa một sản nghiệp văn hóa vẻ vang của tiền
nhân, phải thấy trách nhiệm của mình, tiếp tay với toàn
dân quét sạch rác rến văn hóa và không ngừng phát huy
văn hóa lành mạnh của dân tộc”.
Hoạt động của “Lực lượng Bảo vệ văn hóa dân tộc”
không phải chỉ có phê bình, tuyên truyền đánh thức,
không phải chỉ trong vòng học sinh, sinh viên, ảnh hưởng
của nó rộng hơn, bao gồm nhiều ngành. Tùng Linh trong
bài “Sân khấu dân ca vũ kịch qua cơn chuyển mình trước
cao trào văn hóa dân tộc” cho biết rằng: từ 1966 sang
1967 ở các thành phố lớn miền Nam, đặc biệt là ở Sài
Gòn đã “xuất hiện một luồng sinh khí mới, sinh khí toát
ra từ những làn hơi rắn rỏi đồng thanh xướng lên những
khúc sử ca oai hùng; sinh khí cũng đã toát ra từ những
điệu múa dân tộc mang đầy đủ tính chất hào hùng tráng
kiệt”. Số là vào nửa cuối năm 1966, tức là từ khi có mặt
Lực lượng Bảo vệ văn hóa dân tộc, thì trên một số càng
ngày càng nhiều sân khấu, nội dung biểu diễn có khác
trước đó. Dân Sài Gòn “được nghe lại những khúc sử ca
hào hùng của Lưu Hữu Phước như Kinh cầu nguyện, Hội
nghị Diên Hồng, Ải Chi Lăng, Bạch Đằng Giang, Lên
đường v.v..., của Việt Lang như bài Chiều Yên Thế, của
Văn Cao như các bài Gò Đống Đa, Thăng Long hành
khúc, của Đỗ Nhuận như bài Tiếng hát sông Thao, của Lê
Thương như bài Hòn vọng phu, của Nguyễn Mỹ Ca như
LƯỢC SỬ ĐỒNG BÀO MIỀN NAM
ĐẤU TRANH CHỐNG MỸ VÀ TAY SAI 325

