Page 474 - Miền Nam giữ vững thành đồng - Tập 4
P. 474

Một hiện tượng xã hội đáng chú ý là từng xã, quận,
           tỉnh, miền, sau mỗi mùa đều có hội nghị tổng kết kinh
           nghiệm sản xuất do Hội Nông dân giải phóng chủ trương.
               Đời sống nhân dân vùng giải phóng, nói chung, được
           cải thiện. Thường thấy những làng bình quân 10 nhà có
           một máy thu thanh, một máy may, vài ba xe đạp, xuồng
           máy. Sức đóng góp nhân tài vật lực của vùng giải phóng
           cho kháng chiến càng ngày càng lớn mặc dù chiến tranh
           đã kéo dài, mặc dù địch tàn phá ngày càng dữ dội. Hầu
           như không có nơi nào không vượt mức đảm phụ. Mỗi
           năm, mỗi miền có hàng vạn thanh niên tòng quân, hàng

           vạn người kể cả người có tuổi tác xung phong đi phục vụ
           chiến trường. Thương bệnh binh về làng được nhân dân
           đùm bọc chu đáo.
               2. Thành tích văn hóa giáo dục

               Theo con số của Hội Nhà giáo yêu nước miền Nam
           (12-11-1966) thì vùng giải phóng có tất cả 5.994 trường
           phổ thông dạy 500.000 học sinh. Chiến sự ác liệt hơn
           trước rất nhiều mà giáo dục vẫn phát triển. Năm học 1966-
           1967 vùng giải phóng miền Tây Nam Bộ có 1.671 trường
           cấp 1, 10 trường cấp 2 với 100.000 học sinh. Không kể
           mẫu giáo và lớp vỡ lòng, thôn nào cũng có. Miền Trung
           Nam Bộ, niên khóa 1966-1967 mở thêm 1.250 lớp cấp 1
           và cấp 2 với 1.250 giáo viên và 42.000 học sinh. Riêng




           472      MIỀN NAM GIỮ VỮNG THÀNH ĐỒNG (TẬP IV)
   469   470   471   472   473   474   475   476   477   478   479