Page 447 - Miền Nam giữ vững thành đồng Tập III
P. 447

xây dựng thành cấp học phổ thông hoàn chỉnh; chưa kể
           vô số những lớp mẫu giáo, vỡ lòng. Tình hình phát triển
           giáo dục ở Bến Tre, ở Cà Mau từ 1961 đến 1965 nói lên
           được khuynh hướng chung của các tỉnh: Bến Tre năm
           1961 - 1962 có 606 lớp học với 33.000 học sinh, đến năm
           1964 - 1965 có 912 lớp với 41.575 học sinh và 1.200 thầy
           giáo. Cà Mau năm 1962 - 1963 có 337 lớp với 13.415 học
           sinh, sang năm 1964 - 1965 số học sinh lên 34.000. Năm
           1964 - 1965, toàn miền Trung Trung Bộ có 982 lớp học và
           53.380 học sinh. Địch ném bom phá trường này thì nhân
           dân xây lại trường khác. Học sinh tham gia kháng chiến
           bằng nhiều cách: nơi nơi các em đều nhặt vỏ đạn, mảnh
           bom, mang cho công nhân quân giới; nơi nơi các em đều
           vót chông, đào hầm. Thiếu giấy học thì đồng bào Cà-tu,
           Cà-jong, Hơ-rê, Rắc-lây  khắc phục bằng cách chẻ tre lồ
                                  (1)
           ô mà dùng. Đất sét thay cho phấn. Đồng bào nấu vỏ cây
           làm mực, đốt củi thay đèn. Việc đào tạo đội ngũ giáo viên
           được chú ý đặc biệt; Trường Sư phạm “Tháng Tám” trực
           thuộc tiểu ban giáo dục của Ủy ban Trung ương Mặt trận,
           riêng năm 1964, đã cho ra trường 300 cán bộ giáo viên
           phổ thông có cả giáo viên cấp 3. Năm 1965 so với năm
           1962 thì đội ngũ giáo viên của vùng giải phóng tăng lên
           7 lần. Trong 5 năm, từ 1960 đến 1965, tiểu ban giáo dục
           của Mặt trận đã biên soạn 238 loại sách giáo khoa, in ra
           trên 200.000 cuốn, đưa xuống tận xã để cho giáo viên dạy


           (1)  Dân tộc Cơ Tu, Ca Dong, H’rê, Rglai (BBT).

           LƯỢC SỬ ĐỒNG BÀO MIỀN NAM
           ĐẤU TRANH CHỐNG MỸ VÀ TAY SAI                     447
   442   443   444   445   446   447   448   449   450   451   452