Page 313 - Miền Nam giữ vững thành đồng - Tập 1
P. 313
sao, hậu quả của chính sách ấy đối với nền công nghiệp
nói riêng và đối với đời sống nhân dân nói chung ra sao.
Nói chung là số lượng các cơ sở công nghiệp của
người Việt Nam nhiều gấp mấy lần hồi trước chiến tranh
thế giới lần thứ hai, và điều đó nói lên rằng giai cấp tư sản
dân tộc miền Nam có phát triển, có số vốn tích lũy khá
trong chiến tranh thế giới, trong chiến tranh Đông Dương
và sau đó. Nhưng cũng không thể không thấy rằng phần
lớn tư sản, vẫn là tư sản thương mại, phần lớn các cơ sở
công nghiệp vẫn ở trong trình độ thủ công, và khu vực
kinh doanh bị giới hạn trong khu vực công nghiệp nhẹ,
tất nhiên phụ thuộc rất nhiều với tư bản nước ngoài về
máy móc, nguyên liệu và cả về vốn liếng nữa. Tuần san
phòng thương mại Sài Gòn (28-10-1959) thú nhận rằng
“chỗ yếu nhất của các kỹ nghệ hiện có là sự lệ thuộc
ngoại quốc gần hoàn toàn về nguyên liệu”. Tính chất
gia công của nhiều ngành rất là rõ. Nhiều cơ sở về danh
nghĩa là của người Việt Nam, nhưng kỳ thực là những “xí
nghiệp hỗn hợp” trong đó vốn ngoại quốc thường chiếm
ưu thế, và như thế là không tránh khỏi sự lũng đoạn của
tư bản nước ngoài. Phải nói rằng các nhà tư sản miền
Nam không phải là không có “vốn liếng”, nhưng “vốn
liếng” đó còn do dự, nhút nhát không dám bỏ vào công
nghiệp. Nhiều điền chủ, qua “chính sách cải cách điền
địa” của Diệm được bồi thường hàng ngàn triệu đồng,
314 MIỀN NAM GIỮ VỮNG THÀNH ĐỒNG (TẬP I)

